Điều trị chống đông trong rung nhĩ sau can thiệp động mạch vành qua da - BSNT

Điều trị kết hợp ba thuốc chống đông (triple antithrombotic therapy) bằng warfarin cộng với hai thuốc kháng tiểu cầu là tiêu chuẩn điều trị sau can thiệp động mạch vành qua da (percutaneous coronary intervention/PCI) đối với bệnh nhân có rung nhĩ, nhưng biện pháp điều trị này lại liên quan tới nguy cơ chảy máu cao.



Trong một thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, các tác giả đã chia ngẫu nhiên 2725 bệnh nhân có rung nhĩ đã được can thiệp động mạch vành qua da vào nhóm điều trị kết hợp ba thuốc chống đông bằng warfarin cộng với một thuốc ức chế P2Y12 (clopidogrel hoặc ticagrelor) và aspirin (trong vòng 1 - 3 tháng) (triple-therapy group) hoặc vào các nhóm điều trị kết hợp hai thuốc chống đông bằng dabigatran (110 mg hoặc 150 mg x 2 lần/ngày) cộng với một thuốc ức chế P2Y12 (clopidogrel hoặc ticagrelor) và không có aspirin (110-mg and 150-mg dual-therapy groups). Bên ngoài Hoa Kỳ, những bệnh nhân cao tuổi (≥ 80 tuổi; ≥ 70 tuổi ở Nhận Bản) được chia ngẫu nhiên vào nhóm điều trị kết hợp hai thuốc chống đông (110-mg dual-therapy group) hoặc nhóm điều trị kết hợp ba thuốc chống đông (triple-therapy group). Chỉ tiêu hoặc kết quả chính (primary end point) là biến cố chảy máu lớn hoặc không lớn nhưng có liên quan tới lâm sàng trong thời gian theo dõi (thời gian theo dõi trung bình là 14 tháng). Thử nghiệm lâm sàng này cũng đã kiểm tra sự không thua kém (noninferiority) của điều trị kết hợp hai thuốc chống đông với dabigatran (cả hai liều được kết hợp) so với điều trị kết hợp ba thuốc chống đông với warfarin về tỷ lệ tiêu chí ảnh hưởng đa hợp (composite efficacy end point) của các biến cố thuyên tắc huyết khối mạch máu (nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc thuyên tắc mạch hệ thống), tử vong hoặc tái tưới máu ngoài ý muốn.

Kết quả của thử nghiệm lâm sàng cho thấy tỷ lệ tiêu chí chính (primary end point) chiếm 15,4% ở nhóm điều trị kết hợp hai thuốc chống đông bằng dabigatran (110 mg x 2 lần/ngày) cộng với một thuốc ức chế P2Y12 (clopidogrel hoặc ticagrelor) so với 26,9% ở nhóm điều trị kết hợp ba thuốc chống đông bằng warfarin cộng với một thuốc ức chế P2Y12 (clopidogrel hoặc ticagrelor) và aspirin (trong vòng 1 - 3 tháng) (hazard ratio, 0.52; 95% confidence interval [CI], 0.42 to 0.63; P<0.001 for noninferiority; P<0.001 for superiority) và 20,2% ở nhóm điều trị kết hợp hai thuốc chống đông bằng dabigatran (150 mg x 2 lần/ngày) so với 25,7% ở nhóm điều trị kết hợp ba thuốc chống đông bằng warfarin cộng với một thuốc ức chế P2Y12 tương ứng không bao gồm bệnh nhân cao tuổi bên ngoài Hòa Kỳ (hazard ratio, 0.72; 95% CI, 0.58 to 0.88; P<0.001 for noninferiority). Tỷ lệ tiêu chí ảnh hưởng đa hợp (composite efficacy end point) là 13,7% ở các nhóm điều trị kết hợp hai thuốc chống đông so với 13,4% ở nhóm điều trị kết hợp ba thuốc chống đông (hazard ratio, 1.04; 95% CI, 0.84 to 1.29; P=0.005 for noninferiority). Tỷ lệ các sự cố bất lợi nghiêm trọng không khác biệt đáng kể giữa hai nhóm.

Như vậy, trong số những bệnh nhân rung nhĩ đã được can thiệp động mạch vành qua da thì nguy cơ chảy máu thấp hơn ở những bệnh nhân điều trị kết hợp hai thuốc chống đông bằng dabigatran (110 mg hoặc 150 mg x 2 lần/ngày) cộng với một thuốc ức chế P2Y12 (clopidogrel hoặc ticagrelor) so với những bệnh nhân điều trị kết hợp ba thuốc chống đông bằng warfarin cộng với một thuốc ức chế P2Y12 (clopidogrel hoặc ticagrelor) và aspirin. Điều trị kết hợp hai thuốc chống đông không hề kém hơn điều trị kết hợp ba thuốc chống đông về nguy cơ các biến cố thuyên tắc huyết khối mạch máu. (Funded by Boehringer Ingelheim; RE-DUAL PCI ClinicalTrials.gov number, NCT02164864.)

Nguồn tài liệu:

1. Cannon C. P., Bhatt D. L., Oldgren J. et al. (2017). Dual Antithrombotic Therapy with Dabigatran after PCI in Atrial Fibrillation. New England Journal of Medicine, 377 (16), 1513-1524.

Hà Phương
Nguồn Bacsinoitru.vn
X??ng kh?p

Bình luận